Thị trường khối SACU: Cơ hội cho dệt may Việt Nam
Kỳ 3: Thủ tục vào thị trường
Cập nhật: 10:39:00 9/8/2011
Các thành viên SACU đều có qui định về quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi. Các quy tắc xuất xứ đối với hàng hoá không ưu đãi được qui định tại Luật thuế Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt tại mỗi thành viên, mô phỏng theo luật của Nam Phi.
Cảng Elizabeth (Nam Phi) - Một cửa ngõ chính cho hàng dệt may vào SACU
>>> Kỳ 2: Lợi thế vào Mỹ và EU
>>> Thị trường khối SACU: Cơ hội cho dệt may Việt Nam
Thương mại dịch vụ - Hàng hoá khi nhập khẩu vào các quốc gia thành viên SACU có
thể thông quan tại cảng đến đầu tiên (thông thường là một cảng của Nam Phi) hoặc có thể chuyển khẩu tới một cảng khác
của bất kỳ quốc gia thành viên nào để thông quan.
Hàng hoá di chuyển trong nội khối được miễn thuế nhưng vẫn
phải chịu sự giám sát hải quan. Các thành viên của khối đều áp dụng phương pháp
xác định giá trị hải quan được qui định tại Luật về Thuế hải quan và Tiêu thụ
đặc biệt năm 1964 của Nam Phi. Theo
đó, giá trị hải quan của hàng nhập khẩu được tính trên trị giá giao dịch FOB
của hàng nhập khẩu.
Nếu giá trị giao dịch của hàng hoá không thể xác định, giá
trị hải quan được xác định theo Hiệp định về Định giá Hải quan của WTO.
Các thành viên SACU đều có qui định về quy tắc xuất xứ ưu
đãi và không ưu đãi. Các quy tắc xuất xứ đối với hàng hoá không ưu đãi được qui
định tại Luật thuế Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt tại mỗi thành viên, mô
phỏng theo luật của Nam Phi.
Theo Luật về Thuế
Hải quan và thuế tiêu thụ đặc biệt của Hải quan Nam
Phi năm 1964, hàng hoá được coi là sản xuất, chế tạo tại lãnh thổ quốc gia nào
đó nếu có ít nhất 25% (hoặc một tỉ lệ % khác do Chủ tịch Uỷ ban Thuế Hải quan và thuế tiêu thụ đặc biệt quyết đinh)
chi phí sản xuất mà được biểu hiện bằng giá trị nguyên vật liệu sản xuất tại
quốc gia đó và công đoạn cuối của quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện
tại lãnh thổ đó.
Về thuế nhập khẩu, Nam
Phi được phép qui định mức thuế MFN cho toàn khối sau khi đã tham vấn các thành
viên. Mức thuế MFN trung bình hiện nay của khối là 8.1%.
Trong đó, mức thuế MFN trung bình đối với các sản phẩm nông
nghiệp (theo định nghĩa của WTO) trung bình là 10.1%, các sản phẩm phi nông
nghiệp 7,8%, hàng chế tạo là 8,5%. Hàng dệt may khi nhập khẩu vào các thành
viên của khối SACU sẽ phải chịu mức thuế suất nhập khẩu như sau:
Biểu thuế nhập khẩu
hàng dệt may của các nước SACU (Đơn vị tính: %)
|
Số TT
|
Nhóm mặt hàng
|
Biên độ thuế
|
Thuế Trung
bình
|
|
1
|
Chương 50
|
0
|
0
|
|
2
|
Chương 51
|
0-22
|
7.9
|
|
3
|
Chương 52
|
0-22
|
18.5
|
|
4
|
Chương 53
|
0-22
|
3.8
|
|
5
|
Chương 54
|
0-22
|
15
|
|
6
|
Chương 55
|
0-22
|
16.1
|
|
7
|
Chương 56
|
0-20
|
14.1
|
|
8
|
Chương 57
|
5-30
|
26.4
|
|
9
|
Chương 58
|
0-25
|
17.2
|
|
10
|
Chương 59
|
0-22
|
10.9
|
|
11
|
Chương 60
|
0-22
|
16.7
|
|
12
|
Chương 61
|
0-40
|
37.6
|
|
13
|
Chương 62
|
0-40
|
36.5
|
|
14
|
Chương 63
|
0-60
|
25.2
|
Kỳ 4: Môi trường đầu tư dệt may ở SACU
Phạm Thế Cường