Tư liệu

Tổng quan thị trường thủy hải sản Ai Cập

Cập nhật: 10:54:00 18/10/2011

Hải sản là thực phẩm cần thiết trong truyền thống ăn kiêng của Ai Cập. Lượng tiêu thụ hải sản trung bình đầu người của Ai Cập khoảng 16kg/người/năm. Lượng cá đánh bắt hàng năm là hơn 1,5 tỷ USD.


Thương mại dịch vụ - Tuy nhiên, Ai Cập vẫn phải nhập khẩu hàng năm khoảng hơn 30% nhu cầu tiêu thụ. Các dự án nuôi trồng do tư nhân đảm nhận đến 99%. Trong đó, cá hồi là chủ yếu vì có giá bán cao, hoặc các loại cá dễ nuôi như trê, rô phi.

Nhà nước đóng vai trò cung cấp con giống, kỹ thuật nuôi trồng, hợp tác quốc tế, khuyến khích đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

Nhu cầu tiêu thụ hải sản tại Ai Cập tăng mạnh trong những năm gần đây do thay đổi về thị hiếu và khẩu vị. Số lượng nhà hàng hải sản mới mở gia tăng mạnh, trong khi lượng tiêu thụ hải sản ở chợ và siêu thị cũng tăng cao.

Ngành hải sản nằm trong Bộ Nông nghiệp và Cải tạo đất và sản lượng thủy sản được tính vào sản lượng nông nghiệp. Ngành cá đóng góp 8% vào tổng sản lượng nông nghiệp, trong đó 56% khai thác từ sông Nile, 29% từ các hồ và 15% từ biển. Cơ quan chức năng của Ai Cập theo dõi về thủy sản là Tổng cục phát triển nghề cá.

Năng lực cung cấp nội địa

Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt cá của Ai Cập hiện nay đạt khoảng 820 nghìn tấn/năm, bao gồm đánh bắt từ Địa Trung Hải và Biển Đỏ, các hồ nước ngọt, sông Nile và các trang trại nuôi cá. Tuy nhiên, sản lượng khai thác đang có xu hướng giảm do nguồn cá tại Địa Trung Hải và Biển Đỏ đã giảm mạnh và sự ô nhiễm của các vùng nuôi cá nước ngọt.

Nhu cầu tiêu thụ cá của Ai Cập trong những năm gần đây là khoảng 2 triệu tấn/năm và lượng nhập khẩu với kim ngạch khoảng 300 triệu USD.

Dự báo nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng 10 – 12 % mỗi năm trong vòng 5 năm tới do dân số tăng, các nhà máy chế biến cá hộp tiếp tục được xây dựng và lượng khách du lịch nước ngoài đến Ai Cập tăng nhanh.

Năm 2009, các loại cá được nhập khẩu chủ yếu gồm: cá thu (180 nghìn tấn), sardines (50 nghìn tấn), cá trích (40 nghìn tấn), silver smelt (25 nghìn tấn), silver hake (15 nghìn tấn), cá basa (12 nghìn tấn).

Chính sách thuế và quản lí nhập khẩu

Quản lí nhập khẩu:

Việc kiểm tra chất lượng cá đông lạnh nhập khẩu được thực hiện khá chặt chẽ, cá nhập khẩu phải đảm bảo các yêu cầu:

+ Phù hợp với tiêu chuẩn cho tiêu dùng của con người; không bao gồm chất bảo quản, hóa chất, vi khuẩn độc hại, chất phóng xạ, phân bón và thuốc trừ sâu, được đánh bắt bằng lưới đánh cá, không dùng chất nổ.

+ Phải được giữ ở nhiệt độ dưới –18 độ C kể từ ngày đánh bắt đến ngày giao hàng. Cá không được có tổn thương trên da, có màu sắc thích hợp và không có máu.

Biểu thuế nhập khẩu hải sản

Mã H.S

Mặt hàng

Thuế suất (%)

03.01

Cá sống

5

03.02

Cá tươi

5

03.03

Cá đông lạnh (không fillet)

0

03.04

Cá fillet đông lạnh

0

03.05

Cá khô, muối, hun khói, tẩm bột, làm sẵn

20

03.06

Giáp xác (tôm, cua,..) đông lạnh, chế biến

5

03.07

Thân mềm (mực, sò,..) đông lạnh, chế biến

5

Các nhà cung cấp:

Các nước cung cấp cá đông lạnh chính cho Ai Cập là Hà Lan (50%), Anh (20%), Đức (20%), Hoa Kỳ (5%), Nauy (2%), Marốc (2%), các nước khác (1%). Các nhà cung cấp của Hà Lan chiếm thị phần lớn vì cá của nước này được làm đông lạnh ngay trên biển ngay sau khi đánh bắt nên chất lượng của cá được đảm bảo.

Xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam sang Ai Cập

Ai Cập là thị trường quan trọng của hàng hải sản Việt Nam. Kim ngạnh xuất khẩu mặt hàng này vào Ai Cập tăng mạnh trong thời gian vừa qua và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Trước năm 2005, rất ít doanh nghiệp thủy sản Việt Nam hoạt động tại thị trường Ai Cập và chỉ sau Hội thảo quy mô lớn được tổ chức tại Dubai tháng 8/2005, người dân Ai Cập mới biết đến cá tra Việt Nam. Đây là sự kiện quảng bá quan trọng cho hàng thủy sản Việt Nam tại quốc gia của người Hồi ưa chuộng mặt hàng thủy sản.

Nhờ vậy, lượng xuất khẩu của Việt Nam sang Ai cập từ 70 tấn năm 2005 tăng lên trên 1.300 tấn (năm 2006), 6.906 tấn (năm 2007).

Đến năm 2008, Ai Cập đã vượt UAE trở thành nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam tại Trung Đông và châu Phi. Kim ngạch hải sản tăng hơn 3 lần từ 20,5 triệu lên 63,2 triệu USD.

Cá tra và basa luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Ai Cập. Tuy nhiên, lượng xuất khẩu cá tra sụt giảm rõ rệt sau vụ báo chí Ai Cập đưa thông tin không đúng về sản phẩm của Việt Nam và tìnhtrạng tranh bán của DN Việt Nam đã làm giảm giá bán và uy tín của cá Việt Nam (DN giảm giá đồng thời giảm chất lượng).

Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ tôm, cá ngừ, cá cờ, bạch tuộc, ghẹ, nghêu tăng rõ rệt. Trong năm 2010, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường này giảm 2,61% về khối lượng và 8,7% về giá trị nhưng mặt hàng tôm lại tăng đến 72,3% về khối lượng và 67%. Ai Cập chủ yếu nhập khẩu tôm sú sống, tươi, đông lạnh (mã 03), chế biến (mã 16) và tôm chân trắng sống, tươi, đông lạnh (mã 03).

Tuy nhiên, hàng hải sản xuất khẩu từ Việt Nam đang phát sinh nhiều vấn đề như không đủ trọng lượng, chất lượng như hợp đồng k‎ý kết, phá hợp đồng (không chuyển hàng khi giá tăng), nhãn mác ghi không đúng quy cách dẫn đến việc lô hàng có thể bị từ chối thông quan hoặc bị phạt nặng, đã có gia tăng.

Đối với cá basa – mặt hàng chính trong kim ngạch xuất khẩu hàng hải sản sang Ai Cập cũng đã có hiện tượng lượng nước đá trong sản phẩm chiếm đến 30 - 40 % khối lượng, dẫn đến độ đạm của cá basa rất thấp…

Bên cạnh đó, chuyện mất cắp, rút ruột hàng nông sản và hải sản trong container xuất khẩu đã xảy ra đặc biệt nhiều trong năm nay. Cho đến nay, Thương vụ Việt Nam tại Ai Cập đã ghi nhận một số trường hợp hàng cá basa khi thông quan bị thiếu hàng, hoặc hàng không đúng theo hợp đồng đã ký. Việc này gây ra những tranh chấp phức tạp, gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu cũng như ảnh hưởng lớn đến uy tín doanh nghiệp Việt Nam.

Trần Quang Tùng

Gửi thư   Bản in

Tắt Telex VNI

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ

Tên của bạn

 

Email

   

Ý kiến của bạn

 

ĐỌC NHIỀU NHẤT
thepthudo.vn